Truyền thống cà phê ở Pháp, Ý, Áo, Hy Lạp

Hạt cafe có nguồn gốc từ Châu Phi nhưng Châu Âu đã tái định dạng, tạo nên một nền văn minh cafe có ảnh hưởng sâu sắc lên đời sống nhân loại. Văn hóa cafe Châu Âu với những nét chấm phá đầy độc đáo từ nhiều quốc gia khác nhau như Pháp, Ý, Áo, Hy Lạp đã tạo nên nghi thức thưởng lãm nốt hương. Ở đó, chúng ta không chỉ cảm nhận sự thơm ngon mà còn khám phá sâu hơn những câu chuyện phía sau.

Văn hóa cafe lan truyền nhanh chóng khắp các nước Tây Âu từ khoảng những năm 1700. Cuộc hành trình trên khắp thế giới của loại thức uống tinh túy này đã tạo ra sự khác biệt đáng kể trong phương pháp pha chế và những thói quen thưởng thức giữa các đất nước khác nhau.

VĂN HÓA CAFE Ý – DI SẢN ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI Ý

Nhắc đến nước Ý, người ta không chỉ nghĩ đến những công trình kiến trúc cổ kính, những con đường lãng mạn hay những món ăn tinh tế mà còn có cafe – biểu tượng cho phong cách sống của người dân nơi đây. Từ lâu, nước Ý được mệnh danh là vùng đất sản sinh ra những thức uống từ cafe tuyệt hảo, lừng danh thế giới. Mỗi tách cafe của người Ý đều mang hương vị đậm đà, nét tinh tế và sức hút không thể chối từ. Cùng với dòng chảy thời gian, văn hóa cafe là một di sản độc đáo, thể hiện cho lối sống thanh lịch và đầy tinh tế của “đất nước hình chiếc ủng” xinh đẹp.

Được biết, Ý là một trong những quốc gia góp phần đưa văn hóa cafe đến gần hơn với người tiêu dùng trên khắp các châu lục. Thưởng thức cafe không đơn thuần chỉ là một thói quen đơn thuần vào mỗi buổi sáng, mà dần dần trở thành nghệ thuật đầy tinh tế. Vào năm 1570, lần đầu tiên cafe xuất hiện tại Venice (một thành phổ nổi tiếng của nước Ý).

Sự pha trộn, kết hợp độc đáo giữa Arabica và Robusta hoặc chỉ sử dụng hạt Arabica chính là yếu tố làm nên hương vị đặc trưng không thể nhầm lẫn của cafe Ý. Sự khác biệt giữa cafe Ý với các loại cafe khác trên thế giới nằm ở màu nâu cánh gián đẹp mắt, không dầu hoặc ít dầu. Những hạt cafe ngon nhất, được người Ý lựa chọn, đem đi rang thơm và ướp hương theo bí quyết gia truyền để làm nên hương vị đặc trưng.

Hai loại cafe ghi dấu ấn trong nền văn hóa cafe Ý đó là Espresso và Cappuccino. Trong đó, Espresso được coi là ly cafe tiêu chuẩn và là nền móng cho những biến thể cafe khác. Hình ảnh về một ly Espresso với lớp Crema dày mịn là hiện thân của một ly tiêu chuẩn, mang hương vị nguyên bản của hạt cafe – hương thơm đặc trưng và vđắng đậm đà.

“Espresso” trong tiếng Ý có nghĩa là “làm thật nhanh”. Khi pha chế cafe Espresso, người Ý sẽ đun sôi nước và đổ vào phin, cho dòng nước sôi chảy nhanh, mạnh, lực nước sẽ nén cafe, tạo thành dòng chảy cafe xuống tách qua một màng lọc.

Một lớp Espresso đậm ở phía dưới và lớp bọt sữa bồng bềnh trên bề mặt chính là nét quyến rũ, đầy tinh tế của những tách Cappucino đậm chất Ý. Cafe Cappucino của người Ý còn rắc thêm chút bột chocolate ngọt ngào hay một lớp bột quế thơm nồng để tăng hương vị hấp dẫn của tách cafe.

Tại Ý, du khách chắc chắn sẽ nhận được một tách Espresso nếu gọi một cốc cafe mang về vì Espresso là phiên bản của to-go coffee. Nếu muốn uống Espresso, du khách chỉ cần nói “café” với người phục vụ. Esspressso thường được đựng trong ly sứ nhỏ để du khách nhấm nháp ngay tại quầy pha chế.

Một điều mà du khách cần lưu ý là đừng bao giờ gọi 1 ly cafe sau 11h00, vì đây là loại thức uống người Ý chỉ dùng cho buổi sáng. Họ quan niệm rằng, các buổi trưa và tối không phải là thời gian dành cho cafe. Người Ý họ dùng cafe để khởi động các giác quan sau một đêm dài.

Đối với nhiều người, thưởng thức cafe cần phải có thời gian nhâm nhi, cảm nhận để có những khoảng lặng. Nhưng đặc biệt đối với người Ý, để gọi là người biết thưởng thức cafe, du khách phải biết cách uống cafe vừa đủ nhanh nhưng vẫn cảm nhận được trọn vẹn được hương vị ngon của tách cafe. Châm ngôn của người Ý đó là: “Thưởng thức cafe thật nhanh và thật ngon”.

Đặc biệt, người Ý có một nét văn hóa rất thú vđó là “caffè sospeso” – họ trả tiền cho hai tách cafe, một tách để uống và một tách dành cho người không đủ khả năng chi trả. Đối với họ, hành động này không chỉ thể hiện lòng nhân ái mà còn là một biểu hiện của sự đoàn kết và quan tâm đến cộng đồng.

Cafe Ý không chđơn thuần là một thức uống, mà còn là biểu tượng văn hóa và là nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm văn học và nghệ thuật. Hình ảnh cafe Ý xuất hiện trong nhiều tác phẩm với những góc nhìn và ý nghĩa khác nhau, dưới đây là những tác phẩm tiêu biểu:

  • “Cuộc đời của Pi” của Yann Martel: Cuốn tiểu thuyết kể về Pi Patel – một cậu bé Ấn Độ sống sót sau một vụ đắm tàu và trôi dạt trên biển cùng một con hổ. Trong suốt hành trình gian nan, Pi tìm thấy sự an ủi và niềm hy vọng trong những ly cafe. Cafe trở thành biểu tượng cho sự sống và sức mạnh giúp Pi vượt qua nghịch cảnh.
  • “Dưới ánh mặt trời Tuscan” của Frances Mayes là một hành trình kỳ diệu của một phụ nữ Mỹ đến vùng Tuscan, Ý, để cải tạo một ngôi nhà cổ. Trong cuốn sách này, bà khám phá ra niềm đam mê của mình với ẩm thực Ý, trong đó có cafe – một phần không thể thiếu của đời sống hàng ngày của người dân Tuscan. Tác phẩm này tường thuật về văn hóa cafe độc đáo của Tuscan, nơi cafe không chỉ là một thức uống mà còn là biểu tượng của sự sẻ chia và ấm áp. Những khoảnh khắc ngọt ngào và những cuộc trò chuyện bên ly cafe là những điều nhỏ nhặt nhưng mang lại niềm vui và ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống tinh thần của cư dân địa phương. Tác phẩm này đã thu hút sự chú ý của độc giả và sau đó được chuyển thể thành bộ phim cùng tên, phát hành vào năm 2003. Bộ phim đã gây được tiếng vang lớn trong làng điện ảnh và trở thành một biểu tượng văn hóa về vẻ đẹp và sức sống của Tuscan.
  • “Cafe Italia” của Alexander McCall Smith: Cuốn tiểu thuyết trinh thám hài hước lấy bối cảnh một quán cafe ở Rome, Ý. Cafe là nơi gặp gỡ của những người thuộc mọi tầng lớp xã hội, họ chia sẻ những câu chuyện đời thường và cùng nhau phá giải những bí ẩn xảy ra trong quán.
  • “Quán cafe” của Edward Hopper: Bức tranh miêu tả một quán cafe vắng vẻ vào ban đêm, với một người phụ nữ ngồi một mình bên quầy bar. Bức tranh thể hiện sự cô đơn và lạc lõng trong xã hội hiện đại, nhưng toát lên vđẹp bình yên và tĩnh lặng.
  • “Quán cafe Florian” của Ippolito Caffi (1841): Bức tranh này mô tả quán cafe Florian ở Venice, được cho là quán cafe lâu đời nhất thế giới. Bức tranh cho thấy quán cafe đông đúc với những người từ mọi tầng lớp xã hội, đang thưởng thức cafe và trò chuyện.
  • “Cafe Scene” của George Bellows: Bức tranh miêu tả một quán cafe đông đúc ở New York, thể hiện nhịp sống hối hả và năng động của thành phố, với những người đang bận rộn với công việc và cuộc sống riêng.
  • Phim “The Talented Mr. Ripley”: Tom Ripley – một thanh niên giả mạo người giàu để có được cuộc sống xa hoa. Cảnh Tom Ripley uống cafe tại một quán cafe Ý là một trong những cảnh phim đắt giá nhất, thể hiện sự tinh tế và sang trọng của phong cách sống Ý.
  • Bài hát “Italian Cafe” của Paul Anka: Bài hát miêu tả một quán cafe Ý ấm cúng và lãng mạn, nơi những người yêu nhau gặp gỡ và chia sẻ những khoảnh khắc ngọt ngào.

THÚ UỐNG CAFE CỦA NGƯỜI PHÁP

Khi nghĩ về nước Pháp, hẳn du khách có thể hình dung ra những con đường lát sỏi quanh co, những vỉa hè nép mình trong bóng râm và những quán cafe quyến rũ mang đậm dấu ấn lịch sử. Khung cảnh lãng mạn ấy đã đóng đinh vào trí tưởng tượng mỗi người về “xứ sở hình lục lăng”, dẫu đã từng đặt chân đến đây hay chưa.

Văn hóa cafe Pháp có thể nói là được bắt nguồn từ thế kỷ XVII, với một quán cafe đúng nghĩa ở Paris đầu tiên được thành lập vào năm 1686. Trước đó, cafe được bán từ xe đẩy đường phố thay vì trong các cửa tiệm nơi mà người Pháp có thể ngồi xuống và dành thời gian của mình.

Tuy nhiên, không giống người Ý, người Pháp không thật sự quá mặn mòi với thức uống này. Chính thói quen tụ tập tại các quán cafe Pháp mới chính là lý do khiến thức uống này trở nên phổ biến tới tận ngày nay.

Các quán cafe Pháp là tđiểm của những nhân vật thuộc giới tinh hoa thuộc thời kỳ Khai sáng (thế kỷ XVII và XVIII). Tuy nhiên, cafe vẫn đắt tiền và vẫn là thđể tầng lớp thượng lưu thưởng thức. Dần dần, nó trở nên phổ biến hơn và cafe đã xâm nhập sâu vào văn hóa Pháp. Quán cafe trở thành nơi người Pháp gặp gỡ bạn bè, đồng nghiệp và cập nhật những câu chuyện, tin tức mới.

Đương nhiên ngày nay, các quán cafe Pháp không còn là nơi duy nhất để người Pháp gặp gỡ hay hỏi thăm nhau. Email, điện thoại, mạng xã hội, các trang tin tức,… dần thay thế vị trí những cái hẹn đi cafe. Những quán cafe giđây không còn là những tụ điểm về văn hóa – nghệ thuật mà dần trở thành dư ảnh của một thời quá khứ vàng son mà người Pháp luôn tâm đắc.

Trái ngược với vẻ ngoài đầy mê hoặc và quyến rũ của các quán cafe Pháp, nếu là một kẻ sành miệng, hẳn du khách sẽ thất vọng vì loại cafe được phục vụ ở đây. Người Pháp ưa chuộng hạt cafe Robusta có vị chát và đắng, loại hạt được nhập khẩu miễn thuế từ những ngày Pháp còn là sở hữu các thuộc địa ở Châu Á và Châu Phi.

Tuy nhiên, những sự thay đổi luôn là tất yếu. Thế hệ những người làm cafe mới nhận ra nhu cầu về một loại cafe kiểu khác ở quốc gia Tây Âu này. Người Pháp không quá cứng nhắc với thức uống giàu năng lượng sẵn có, cộng với lợi thế sẵn có về bầu không khí tại các quán cafe Pháp cũng như tệp khách hàng khổng lồ; đây sẽ là chìa khóa để tạo nên cuộc cách mạng trong văn hóa uống cafe Pháp.

Cũng giống như ở Việt Nam, những quán cafe ở Pháp thường có không gian bên trong và không gian ngoài trời với những chiếc bàn tròn đơn giản nhưng vô cùng tinh tế. Những quán cafe ở Pháp được trang trí với rất nhiều phong cách tđơn giản đến cầu kỳ, từ cổ điển đến hiện đại. Nhưng nhìn chung, không gian những quán cafe đây thường tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu.

Nét đặc trưng trong văn hóa cafe ở Pháp là “sit, sip and enjoy” tức là “Hãy ngồi xuống, nhấm nháp và tận hưởng”. Do đó, phong cách uống cafe của người Pháp là chậm rãi, thư thả, không vội vã. Đối với người Pháp, những quán cafe là nơi quen thuộc đđàm đạo, tán gẫu, chia sẻ mọi vấn đề từ cuộc sống đến chính trị. Khi đã gọi một ly cafe ở Pháp, du khách có thể ngồi tại quán bao lâu tùy thích mà không hề có một sự khó chịu nào từ nhân viên phục vụ của quán.

“Cafe lãng mạn” được coi là nét đặc trưng trong văn hóa cafe ở Pháp. Những quán cafe đây thường được trang trí theo phong cách lãng mạn với những ánh đèn, hoa tươi, cây xanh các họa tiết trang trí bằng gỗ,… Trước đây khi chưa có luật cấm hút thuốc lá ở những nơi công cộng, hình ảnh những làn khói thuốc mờ ảo thường rất quen thuộc trong những quán cafe ở Pháp càng tạo nên sự lãng mạn cho không gian nơi đây. Hiện nay, những quán cafe thường có những không gian hút thuốc riêng hoặc khu vực ngoài trời.

Một trong những nét đặc trưng trong văn hóa cafe ở Pháp nữa là thời điểm thưởng thức từng loại cafe. Người Pháp không uống cafe trong khi ăn bất kỳ món gì, kể cả món tráng miệng. Vì vậy, ở Pháp, người phục vụ chỉ mang cafe lên khi du khách đã dùng xong món tráng miệng mà thôi. Đặc biệt, sau khi dùng bữa tối, nếu du khách order cafe Au Lait hoặc Cappuccino, người phục vụ sẽ nhìn du khách như thể du khách đến từ một hành tinh khác, vì đối với người Pháp, sau bữa tối, du khách chỉ nên uống cafe nguyên chất.

Du khách sẽ hiếm khi tìm thấy thực đơn trong một quán cafe Pháp, nhưng hầu hết các nơi đều phục vụ các món giống nhau. Một vài thức uống điển hình có thể kể tới:

  • Café: Nếu du khách gọi “un café”, du khách sẽ nhận được một ly Espresso, loại đồ uống phổ biến nhất. Hương vị Espresso ở Pháp rất mạnh và đậm đặc.
  • Café Au Lait (Cafe sữa) – loại cafe được pha chế hết sức đơn giản chỉ việc pha trộn giữa một shot Espresso phủ sữa đánh nóng, một thức uống khá giống Latte.
  • Café Crème – một phiên bản cải tạo của café Aau Lait. Thay vì đổ sữa trực tiếp vào cà phê thì Café Crème sđược làm bằng một ly cà phê Espresso tiêu chuẩn cùng với một lớp kem được đánh bong tạo bọt phía trên. Hãy nghĩ về nó tương tự như một ly Cappuccino nhưng tốt hơn.
  • Café Noisette: Một tách Espresso với chút bọt sữa nóng, giống Macchiato. “Noisette” có nghĩa là “hạt phỉ”, dùng để chỉ màu nâu của thức uống, khi người Pháp đổ sữa vào một ly cafe đen thì màu nước sẽ dần chuyển sang màu nâu và đây là cách họ gọi tên cho thức uống này.
  • Café Allongé: Espresso pha với nước nóng, tương tự như Americano.
  • Café Filtré (Cafe túi lọc): Ở vài nơi, du khách sẽ được phục vụ cafe phin giống như ở Việt Nam.
  • Café Viennois: Đây là phiên bản Pháp của món Latte truyền thống – ngọt và ngậy hơn. Bao gồm Espresso, bột socola và kem béo, món đồ uống này sẽ phù hợp với những ai đam mê đồ uống Starbucks hay các chuỗi cafe tương tự.
  • Café Serré: Nếu du khách thích vđắng của cafe, hãy thử một cốc Serré. Thức uống này về cơ bản là cafe Espresso được chiết xuất với một nửa lượng nước so với thông thường.
  • Café Gourmand: Nếu du khách chỉ lưu lại Pháp trong một thời gian ngắn, hãy chiêu đãi mình bằng cách gọi một café Gourmand. Du khách sẽ bất ngờ với những gì người phục vụ mang ra: không chỉ có cafe mà cả một khay đăn nhẹ, thường bao gồm phomai, một vài loại hạt hay hoa quả.

Cách người Pháp uống cafe chịu nhiều ảnh hưởng từ văn hóa Ý. Theo truyền thống, cafe sữa dành cho buổi sáng và được ăn kèm với bánh ngọt. Espresso là thức uống phổ biến nhất được thưởng thức trong phần còn lại của ngày và thường không được kết hợp với đăn.

Du khách có thể có một ly Espresso kiểu Ý, tức dùng tại quầy bar. Thông thường, đây là lựa chọn có giá rẻ hơn so với việc ngồi tại bàn. Tuy nhiên, đây là sự khác biệt của người Pháp so với người láng giềng Ý của họ. Là một trong những đất nước có lượng khách du lịch ghé thăm nhiều nhất, quan sát người vãng lai là thú tiêu khiển tầm cỡ quốc gia của người Pháp, và việc ngồi trong quán cafe hàng giđể ngắm nhìn xung quanh không phải là điều gì đó quá xa lạ.

Cafe take away không được quá coi trọng ở Pháp. Uống cafe Pháp là cái thú cần thời gian. Với họ, niềm vui nằm ở việc tụ tập và tận hưởng những phút giây rảnh rỗi.

Nhiều quán cafe Pháp phục vụ cả đăn. Nếu du khách không có ý định dùng bữa, hãy chú ý để không ngồi vào những bàn đã bày sẵn đĩa và dao nĩa. Quầy bar, lúc này sẽ là vị trí phù hợp hơn dành cho du khách.

VĂN HÓA CAFE Ở ÁO – MỘT HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT 

Áo được biết đến rộng rãi trên thế giới với văn hóa cafe nổi bật. Không giống nhiều nơi khác ở Châu Âu và trên thế giới, ở Áo, người ta không chỉ mua cafe mang đi và xem đó như một thức uống để đánh thức tinh thần vào sáng sớm, mà là một phần thiết yếu trong văn hóa giúp con người xích lại gần nhau hơn. Trên thực tế, văn hóa cafe ở Áo đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia này.

Mặc dù Áo không tiên phong tạo ra các tiệm cafe, nơi người ta đến để thư giãn và trò chuyện, nhưng cafe ở đây đã được tôn lên thành một hình thức nghệ thuật thực thụ. Hầu hết quán cafe nổi tiếng ở Áo thường có bầu không khí vô cùng thanh lịch và tao nhã, tuy nhiên cũng không kém phần ấm áp.

Kiến trúc của các quán cafe ở Áo mang nét đẹp đặc trưng cuốn hút với kiểu cách sang trọng và lãng mạn. Căn phòng cổ điển, ấm cúng với những chùm đèn pha lê lộng lẫy có tuổi đời trăm năm. Cột đá cẩm thạch sừng sững như cột chống trời. Mái vòm cao lớn cong cong với các bích họa cổ điển kiểu lớn tạo cảm giác thoáng mở. Những ô cửa cỡ lớn nhìn ra con phố xung quanh để lấy nắng. Những chiếc bàn đá hoa cương mát lạnh, với những vân hoa tương hợp với hoa văn trên những chiếc ghế bọc nệm sẫm màu.

Không gian ấn tượng này đã được người dân Áo bảo tồn suốt 3 thế kỷ qua. Một số quán cafe nổi tiếng ở Áo có thể kể đến là quán Hawelka ở phố Dorotheergasse, quán Griensteindl ở phố Michaelerplatz, quán Frauenhuber – nơi nhà soạn nhạc thiên tài Mozart sáng tạo ra bao giai điệu bất hủ,…

Người dân Áo thường mất vài giờ ở quán cafe để gặp gỡ bạn bè, nghỉ ngơi một mình hoặc đọc sách. Chỉ cần mua một tách cafe, khách có thể ở lại bao lâu tùy thích.

Vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, nhiều quán cafe ở Áo đã là chốn thường xuyên lui tới của nhạc sĩ, nhà văn, khoa học gia, chính trị gia… Nhiều tác giả đã sáng tác tại chính những quán cafe công cộng này. Văn hóa giao lưu tại quán cafe đã theo đó mà lưu truyền qua nhiều thế kỷ.

Trong văn hóa cafe ở Áo, sự đa dạng của các loại cafe là một niềm tự hào. Tất cả mọi người đều có thể tìm thấy món cafe yêu thích khi đến quốc gia này, dù theo gu uống đậm hay nhạt, ngọt hay đắng, có kem hoặc sữa hay không. Một số loại cafe phổ biến mà du khách có thể tìm thấy bao gồm:

  • Schwarzer: Single Espresso hoặc Double Espresso (lượng cafe gấp đôi Single Espresso).
  • Brauner: Single hoặc Double Espresso thêm kem.
  • Verlängerter (Café Americano): đồ uống được làm bằng cách thêm nước nóng vào Espresco để có hương vị khác biệt.
  • Melange: Espresso pha với sữa hâm nóng, phủ bọt sữa lên trên cùng.
  • Kaffe Verkehrt (Latte Macchiato): món đồ uống cũng bao gồm Espresso và sữa nhưng lượng sữa nhiều hơn.
  • Franziskaner: 1/3 cafe, 1/3 sữa, 1/3 kem tươi.
  • Einspänner: Double Espresso và nước, thêm một ít kem tươi.

Đặc biệt, người dân Áo rất thích “Einspänner” – loại cafe có nguồn gốc từ xe đẩy được kéo bởi một con ngựa. Ngày nay, cafe thường được đựng trong những ly thủy tinh cao, bên dưới là cafe đen, bên trên có thêm một lớp kem, chút bột đường trắng mịn, đôi khi tô điểm thêm một chiếc bánh quy nhỏ. 

Tại các quán cafe Áo, mỗi tách cafe được phục vụ cùng một ly nước. Ly nước này sẽ giúp khách làm sạch vòm miệng trước khi uống cafe để cảm nhận được hương vị tốt hơn, đồng thời giúp xua tan cơn khát sau khi uống xong cốc cafe. Nếu ở lại quán trong nhiều giờ đồng hồ, ly nước của khách sẽ thường xuyên được rót thêm cho đầy. Đa số quán cafe ở Áo đều cung cấp bánh ngọt và các món tráng miệng khác, do đó, du khách có thể ăn nhẹ tại đây để nạp năng lượng trước khi tiếp tục hành trình khám phá.

VĂN HÓA CAFE HY LẠP: MỘT LỐI SỐNG

Theo một nghiên cứu được công bố bởi chartsbin.com năm 2011, Hy Lạp, mặc dù có diện tích nhỏ bé, xếp hạng 15 trong số tất cả các quốc gia trên thế giới, với mức tiêu thụ cafe bình quân đầu người hàng năm là 5,5kg. Nhưng uống cafe ở Hy Lạp không chỉ là một thói quen. Đó là một nghi thức hàng ngày mà người Hy Lạp có thể thưởng thức một mình khi đọc báo hoặc cùng bạn bè trong một quán cafe đông đúc, vào mùa hè ngoài trời bên bờ biển, vào mùa đông trong một quán rượu ấm cúng hoặc trên một chuyến đi đường dài. Giờ nghỉ uống cafe ở Hy Lạp là những việc nghiêm túc và kéo dài. Lâu đến nỗi những ý tưởng hay nhất được nảy sinh bên bàn ăn với vài tách cafe, cùng bạn bè hoặc đồng nghiệp và những buổi động não. Khi một người muốn rủ người khác đi chơi, họ thường nói “Bạn có muốn đi uống cafe với tôi không?”. Cùng nhau uống cafe có thể là một thú vui cho bạn bè và là cái cớ để tán tỉnh, cập nhật tin tức trong ngày hoặc thậm chí là chơi cờ vua và cờ thỏ cáo.

Người Hy Lạp thường uống cafe hai lần một ngày; một lần vào buổi sáng và một lần sau giờ nghỉ trưa. Ngoài ra, trong các buổi gặp gỡ và xã giao, cafe cũng luôn là thức uống hàng đầu được mọi người lựa chọn. Điều này đã phần nào cho thấy tầm quan trọng của cafe trong đời sống xã hội của người dân nơi đây.

Cafe là một phần thiết yếu của văn hóa Hy Lạp, và thật đáng chú ý, nhưng không có gì ngạc nhiên, khi các quán cafe Hy Lạp đang mọc lên như nấm thay vì mất thị phần vào tay các chuỗi cafe quốc tế lớn đã mở tại Hy Lạp. Đất nước này có rất nhiều quán cafe địa phương với 2 hình thức: Kafeteria và Kafeneio. “Kafeteria” là một điểm tụ tập khá thời thượng và phổ biến đối với người Hy Lạp, đặc biệt là những người dưới 35 tuổi. Vào mùa xuân và mùa hè, hầu hết các Kafeteria đều có bàn ngoài trời và cũng đóng vai trò là quầy bar vào ban đêm. Kafeteria thường phục vụ nhiều loại cafe, đồ uống khác và đồ ăn nhẹ. “Kafeneio”, quán cafe truyền thống lâu đời đã tồn tại từ nhiều thập kỷ trước, từng là và vẫn là điểm gặp gỡ của những người đàn ông lớn tuổi ở mọi làng mạc hay thị trấn, mặc dù mọi người đều được chào đón và đối xử lịch sự.

Nhưng dù du khách chọn ngồi ở đâu, khi du khách mở danh mục và nhìn vào khu vực cafe, có thể du khách sẽ thấy một số loại cafe tiêu chuẩn.

Trước hết, cafe Hy Lạp truyền thống, còn được gọi là “Ellinikós Kafés”, là một loại cafe pha chế có độ sánh tương tự như cafe hòa tan của Mỹ và thực chất là một phiên bản của cafe Thổ Nhĩ Kỳ, vốn đã du nhập vào Hy Lạp trong thời kỳ Ottoman chiếm đóng. Đây là một loại cafe đen đặc, đậm đà được pha chế trong một chiếc ấm nhỏ đặc biệt gọi là “briki”, được phục vụ với lớp bọt đặc biệt ở trên và bã cafe ở đáy một chiếc cốc nhỏ. Kích thước nhỏ của chiếc cốc không có nghĩa là cafe được pha theo kiểu shot. Thay vào đó, nó được pha chế để nhấm nháp từ từ, hoàn toàn phù hợp với văn hóa cafe Hy Lạp. Phần bã cafe lắng xuống đáy cốc không phải để uống.

Những cặn bã này tạo thành một lớp cặn, từ đó sinh ra phong tục xem bói của người Hy Lạp. Theo phong tục này, sau khi uống hết tách cafe, khách phải xoay tách sao cho cặn cafe phủ kín toàn bộ bên trong, đặt đĩa lên trên tách, úp ngược tách và kiên nhẫn chờ bã cafe chảy ra. Sau đó, một người khác sẽ nhìn vào tách và diễn giải cho khách hình dạng và hình dạng của cặn phấn. Những mê tín khác liên quan đến cafe Hy Lạp liên quan đến việc làm đổ một ít bã cafe ra khỏi tách, điều này được cho là mang lại may mắn và tiền bạc. Ngoài ra, nếu tách cafe của bạn có bọt lớn, một số người cho rằng đó là dấu hiệu của sự thất vọng, trong khi những người khác tin rằng điều đó có nghĩa là một người bạn tốt sẽ sớm đến. Người ta cho rằng một tách cafe có thể dự đoán thời tiết. Nếu bọt khí tụ lại ở giữa bề mặt tách, thì thời tiết sẽ nắng đẹp. Nếu bọt khí hình thành xung quanh bên ngoài tách, thời tiết sẽ chuyển sang mưa hoặc tuyết. Nhưng dường như một số mê tín cũng có một chút liên quan đến vật lý. Trong trường hợp này, áp suất khí quyển cao, thường đi kèm với thời tiết nắng đẹp, sẽ đẩy các bong bóng trên bề mặt vào giữa cốc. Ở áp suất thấp, theo vật lý, có thể dẫn đến mưa hoặc tuyết và dự báo thời tiết thay đổi, các bong bóng sẽ vỡ ra bên ngoài cốc.

Ở Hy Lạp, pha một tách cafe lý tưởng là cả một nghệ thuật, và tách cafe Hy Lạp đầu tiên được pha đúng cách là dấu hiệu của sự trưởng thành đối với một cô gái. Ở Hy Lạp, khi gọi cafe, du khách cũng cần xác định độ ngọt mong muốn. Có một thuật ngữ chuyên ngành dành riêng cho việc này. Vì vậy, đối với cafe Hy Lạp truyền thống, các biến thể phổ biến nhất là “sketos” (không đường), “metrios” (có một thìa cafe đường), “glykos” (ngọt, với 2 thìa cafe đường) hoặc “variglykos” (rất ngọt). Nếu du khách không chỉ định rõ, cafe thường được phục vụ ở mức độ vừa phải đến ngọt, và điều này được ưa chuộng hơn vì không có đường và do hương vị đậm đà nên nó có vị khá đắng. Cafe Hy Lạp vẫn được phục vụ ở hầu hết các quán cafe, nhưng cafe pha theo cách truyền thống có thể được tìm thấy ở những quán cafe ít phổ biến hơn vì nhiều quán hiện đại có xu hướng sử dụng máy pha cafe Espresso, làm giảm chất lượng.

Bên cạnh tất cả những đặc điểm văn hóa đặc biệt này, cafe Hy Lạp còn mang đến nhiều điều hơn thế nữa. Giàu polyphenol và chất chống oxy hóa, cùng với hàm lượng caffeine vừa phải, cafe Hy Lạp được cho là có tác dụng cải thiện sức khỏe tim mạch và tăng tuổi thọ, theo một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Vascular Medicine trên cư dân đảo Ikaria, Hy Lạp – những người được mệnh danh là có tuổi thọ cao nhất thế giới. “Các nhà nghiên cứu về sức khỏe tim mạch cho rằng một tách cafe Hy Lạp mỗi ngày có thể là chìa khóa cho tuổi thọ của người dân trên đảo Ikaria, Hy Lạp, những người sống đến 90 tuổi trở lên”, Tiến sĩ Gerasimos Siasos thuộc Trường Y Đại học Athens cho biết trong một tuyên bố bằng văn bản. Thực tế là những người bị tác dụng phụ của việc tiêu thụ quá nhiều cafe cũng được khuyến khích uống cafe Hy Lạp.

Nhưng cafe Hy Lạp truyền thống không còn được ưa chuộng nữa, đặc biệt là trong giới trẻ. Thức uống truyền thống này lần đầu tiên bị phá vỡ bởi Frappé, một loại cafe Hy Lạp nguyên bản đã gây sốt cả nước vào cuối những năm 60 và 70 và vẫn chưa hề suy giảm kể từ đó, là một trong những thức uống dễ pha chế nhất. Từ “frappé” bắt nguồn từ động từ “frapper” có nghĩa là “đánh” trong tiếng Pháp. Tuy nhiên, khi mô tả một loại đồ uống, từ “frappé” có nghĩa là “ướp lạnh”. Frappé là một di sản của Hy Lạp được phát minh một cách tình cờ vào năm 1957 tại Hội chợ Thương mại Quốc tế ở thành phố Thessaloniki, Hy Lạp. Đại diện của công ty Nestlé, Giannis Dritsas, đã trưng bày một loại đồ uống chocolate mới được sản xuất ngay lập tức bằng cách trộn nó với sữa và lắc trong bình lắc. Nhân viên của ông, Dimitrios Vakondios, không thể tìm thấy nước nóng để có thể uống cafe hòa tan thông thường trong giờ nghỉ giải lao. Vì vậy, ông đã ứng biến bằng cách xay cafe với nước lạnh và đá viên trong bình lắc. Sáng tạo của ông, Frappé, từ đó đã trở thành một trong những thức uống phổ biến nhất ở Hy Lạp. Đến những năm 80, đây là lựa chọn cafe số một ở Athens và đã trở thành một dấu ấn của văn hóa cafe ngoài trời Hy Lạp thời hậu chiến. Ngày nay, Frappé có mặt tại hầu hết các quán cafe ở Hy Lạp và có thể được gọi với 3 mức độ ngọt chính: glykós (ngọt, 2 thìa cafe và 4 thìa cafe đường); métrios (vừa, 2 thìa cafe và 2 thìa cafe đường); và skétos (không đường, 2 thìa cafe và không đường).

Khi hòa tan, cafe hòa tan sấy phun được sử dụng để pha Frappé sẽ chuyển thành dạng keo tương đối ổn định hơn so với cafe pha truyền thống do không có dầu khiến bọt không dễ vỡ. Điều này cho phép tạo ra lớp bọt dày đặc trưng ở trên cùng của cafe tương tự như crema nhưng ổn định hơn. Các bọt đến gần nhau hơn và từ từ bắt đầu kết dính lại và tạo thành các bong bóng lớn hơn. Hiện tượng này tiếp tục cho đến khi bọt gần như đông lại, trong vòng 2-10 phút tùy thuộc vào quá trình khuấy. Đó là lý do tại sao không thể tạo ra một ly Frappé ngon ở nhiều quốc gia nếu không có cafe sấy phun.

Frappé Hy Lạp cũng được tiêu thụ ở Síp, nơi người Síp gốc Hy Lạp đã đưa frappé vào văn hóa của họ. Sự thành công của frappé đã dẫn đến sự ra đời của nhiều biến thể, như thêm kem Vani thay vì sữa, và lan rộng ra khắp thế giới.

Vào những năm 90, chịu ảnh hưởng của xu hướng quốc tế, người Hy Lạp bắt đầu uống Espresso và Cappuccino. Tiếp bước Frappé, Espresso Freddo (Espresso đá) và Cappuccino Freddo (Cappuccino với nhiều đá, phủ sữa lạnh sủi bọt) đã vượt qua Frappé để trở thành loại cafe lạnh được ưa chuộng, đặc biệt là đối với giới trẻ Hy Lạp. Những loại cafe này hiện rất phổ biến và chủ yếu được tìm thấy ở Hy Lạp và Ý.

Du khách cũng có thể tìm thấy Frappuccino, một loại cafe Espresso với sữa sủi bọt; một từ ghép giữa Frappé và Cappuccino. Đừng ngạc nhiên khi thấy Frappuccino cũng như “Frappe” kiểu Hy Lạp (do Starbucks viết không có dấu) tại Starbucks ở Hy Lạp, một chuỗi cửa hàng cafe đã bắt kịp phong cách sống Hy Lạp.

Một trường hợp thú vị khác về cafe đã xuất hiện trong danh mục của nhiều quán cafe là Freddoccino, một loại hỗn hợp đá lạnh trông giống như nước đá vị cafe, thường được thưởng thức vào những ngày hè nóng nực. Nó được một người Hy Lạp tên là Kostas Zobanakis phát minh vào năm 2002, vào thời điểm nhu cầu cafe lạnh tăng cao. Nó giống như một ly sữa lắc cafe, thường được trang trí cầu kỳ với Siro và/hoặc kem tươi, nhưng lại mang vị ngọt hơn là chất kích thích.

Cafe cũng có thể được tìm thấy ở Hy Lạp dưới dạng pha bằng bình French Press (chủ yếu tại các khách sạn) với công nghệ lọc hiện đại. Loại thứ hai đôi khi được gọi là “Gallikos” (tiếng Pháp), điều này có thể gây nhầm lẫn với phương pháp pha bằng bình Press. Nếu du khách muốn pha cafe bằng bình phin, tốt nhất nên gọi thẳng bằng cách nói “filtrou”.

Tóm lại, dù du khách tình cờ gặp phải loại quán cafe nào, có một điều chắc chắn: du khách chắc chắn sẽ tìm thấy một loại cà phê phù hợp với khẩu vị của mình. Và đừng quên thưởng thức theo phong cách Hy Lạp, nếu không, nó sẽ chỉ là một nửa niềm vui.

Văn hóa cafe ở mỗi quốc gia đều mang nét đặc trưng riêng biệt, thể hiện phong cách sống, thưởng thức và nghệ thuật pha chế cafe của nước đó. Hãy thử một lần du lịch Châu Âu để cảm nhận được văn hóa và con người nơi đây nhé!